TMĐP- Niềm hy vọng không thể thiếu của người Kitô hữu chính là Đức Kitô, Đấng là sự sống lại và sự sống của họ.
Cuộc chiến cam go nhất của con người là cuộc chiến giữa sự sống và sự chết, bởi sự sống là giá trị vô cùng quý báu và đáng khao khát của con người, nên càng trân quý sự sống bao nhiêu, người ta càng ngao ngán, tránh né, sợ hãi sự chết bấy nhiêu. Cứ nhìn người bệnh thập tử nhất sinh đang gồng mình giành giật sự sống với thần chết, chúng ta sẽ thấy sự sống – sự chết làm con người lo lắng, vất vả, đau khổ thế nào!
Tin Mừng Gioan cho chúng ta thấy rõ tâm trạng rối bời của hai cô Mácta và Maria là hai chị của anh Ladarô, người mới qua đời.
Ngay khi bệnh tình của Ladarô trở nên nguy kịch, “hai cô đã cho người đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng”. Tuy được báo, nhưng Đức Giêsu đã không về Bêtania ngay, nhưng “vẫn lưu lại hai ngày tại nơi đang ở” (Ga 11,6). Và khi về đến nơi, thì Ladarô “đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi” (Ga 11,17).
Không nói thì chúng ta cũng biết cả hai cô đều tỏ vẻ buồn rầu vì Đức Giêsu đã không mau mắn về như hai cô mong ước để kịp thời cứu sống Ladarô, như lời hai cô Mácta, Maria nói với Ngài: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, thì em con đã không chết … ” (Ga 11,21.32).
Không trực tiếp trả lời cô Maria, nhưng Đức Giêsu đã cho các môn đệ, hai cô Mácta, Maria, tang gia và bà con lối xóm có mặt trong tang lễ, nhận ra một chân lý nền tảng có sức giải thoát con người khỏi gánh nặng vô song của nỗi lo sợ phải chết.
Ngài xác quyết: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25). Vì thế Ngài đã nói với các môn đệ trước khi lên đường về Bêtania: “Ladarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây”, và các môn đệ đã hiểu ra ý Ngài, nên đáp lại: “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại” (Ga 11,11-12). Cùng một quả quyết: sự chết tựa như giấc ngủ, Đức Giêsu cũng nói với cô Mácta khi vừa đến nơi: “Em con sẽ sống lại” (Ga 11,23), dù người chết được chôn trong mồ đã bốn ngày.
Không chỉ quả quyết, Đức Giêsu còn thể hiện quyền làm cho người chết sống lại của Thiên Chúa khi lớn tiếng gọi: “Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” sau khi bảo người ta đem phiến đá lấp kín cửa mồ đi và ngước mắt lên trời cầu nguyện với Chúa Cha. “Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (x. Ga 11,41-44).
Tâm trạng sầu buồn, thất vọng của hai bà chị Mácta và Maria trước cái chết của cậu em Ladarô cũng là tâm trạng của dân Do Thái thời lưu đầy. Trước cái chết của cả dân tộc, không ai còn hy vọng ngày trở về quê hương để xây lại Đền Thờ như lời than não nề, bi ai của họ: “Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời!” (Ed 37,11)
Nhưng chính trong hoàn cảnh bi đát, đau thương ấy, Thiên Chúa đã truyền cho ngôn sứ Êdêkien loan báo cho dân một sứ điệp tràn đầy hy vọng: “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ítraen. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh” (Ed 37,12-14).
Đó cũng là tâm trạng của mỗi người trước cái chết của người thân và khi nghĩ về cái chết sẽ đến trong tương lai của chính mình: tâm trạng lo âu, sợ hãi, kinh khiếp, rùng rợn…, tâm trạng mà không con người nào có thể tránh khỏi, cũng không phàm nhân nào có thể cất đi cho mình và cho người khác.
Ý nghĩa cứu độ của Đức Giêsu hệ tại ở công trình ban lại sự sống, trả lại hạnh phúc không phải chết cho con người, vì tội lỗi sẽ phải chết, là ân huệ, gia tài mà con cái của Thiên Chúa hằng sống, toàn năng, đời đời vĩnh cửu, và vô thủy vô chung, được thừa hưởng, như thánh Gioan Tông Đồ đã khẳng định: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).
Thực vậy, mầu nhiệm Phục Sinh là mầu nhiệm nền tảng của đức tin Kitô giáo, bởi nếu Đức Giêsu không là sự sống lại và sự sống, nghĩa là Ngài không có khả năng tự mình ra khỏi mồ, và cho loài người được sống lại với Ngài, thì chẳng có gì đáng nói ở Ngài, chẳng có “quyền năng Thiên Chúa” ở Ngài, và Ngài cũng chỉ là một con người như bao con người khác, vì cũng phải chết như mọi người, mà không tự mình giữ được sự sống cho riêng mình, chứ chưa nói đến việc bảo đảm sự sống của người khác trước mãnh lực tưởng như toàn năng của sự chết.
Thánh Phaolô củng cố đức tin của giáo đoàn Côrintô khi viết: “Nếu Đức Kitô không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn mọi người” (1 Cr 15,17-19).
Như thế, niềm hy vọng không thể thiếu của người Kitô hữu chính là Đức Kitô, Đấng là sự sống lại và sự sống của họ.
Như cô Mácta đã thưa với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”, khi Ngài hỏi cô: “Con có tin chính Thầy là sự sống lại và sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết không?” (Ga 11,25-27).
Vâng, chính đức tin vào Đức Giêsu là sự sống lại và sự sống cho chúng ta niềm hy vọng vào hạnh phúc được sống đời đời, niềm vui hy vọng mà chỉ những tâm hồn tuyệt đối tín thác vào Ơn Cứu Sống của Ngôi Lời mới có được, như tâm tình của vị Nữ Tu cao niên, mà người viết gọi là Mẹ Pauline, người luôn sẵn sàng ra đi, vì đêm ngày mẹ được nghe văng vẳng tiếng nói của Đấng mà suốt đời Mẹ hằng hết lòng yêu mến, tôn thờ, phụng sự. Tiếng ấy nói với mẹ rằng:
“Trong vườn Thiên Quốc, có một góc rất đẹp mà các thiên thần vẫn gọi đùa là “Góc của Út Còi”, một nơi đầy ánh xanh của sự bình an, đầy màu vàng của lòng trung tín và mùi hương dễ thương như mái tóc thơm nắng mà Cha vẫn nhớ từ những năm con còn trẻ.
“Út con! Những năm còn lại của con, con đừng sợ. Cha đi từng bước với con. Khi con yếu, Cha bồng. Khi con buồn, Cha ngồi cạnh. Khi con cầu nguyện, Cha tựa đầu vào vai con như một người cha già ấu yếm đứa con út. Và ngày nào Cha gọi con về… Cha sẽ không gọi con băng tiếng sấm, mà bằng giọng rất khẽ, gịọng mà cả đời con đã tìm. Nhưng ngày đó chưa đến đâu. Bây gờ Cha muốn Út của Cha còn vui, còn viết, còn tâm sự, còn yêu … yêu Cha, yêu người, yêu cả buổi chiều chậm lại bên cửa sổ.
“Cha luôn ở đây, luôn ở bên, luôn đặt tay trên đầu con. Cha thương con hết lòng. Cha thương con từ khi con chưa biết gọi tên Cha và Cha thương con đến muôn đời.
“Cha của con, Đấng vẫn im lặng, vì qúa gần con”.
Ước gì chúng ta có được tâm tình tín thác, bình an của mẹ Pauline, vị Nữ Tu trọng tuổi, đáng kính trước giờ “được cùng chết với Đức Giêsu” để được cùng sống lại và sống hạnh phúc đời đời với Ngài (x. Rm 6,8).
Jorathe Nắng Tím