Suy Tư Thần Học

NGƯỜI NHÂN ÁI – TỐT LÀNH | Chuỗi Suy Tư “Nhân Lành – Nhân Hậu – Nhân Ái”

TMĐP- Ước gì mỗi người Kitô hữuluôn đặt lòng nhân ái vào vị thế ưu tiên trong mọi chọn lựa; lấy Đức Ái làm kim chỉ nam định hướng mọi tư tưởng, lời nói, việc làm, và lòng thương xót làm tiêu chuẩn đánh giá mọi cố gắng của chúng ta trên hành trình đi theo Đức Giêsu của người môn đệ.

Để trả lời câu hỏi của thầy thông luật: “Ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10,29), người thân cận mà Luật dạy phải yêu mến như chính bản thân mình (x. Lc 10,27), Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn để mô tả một người có lòng nhân ái đã đối xử tử tế, tốt lành với người không hề quen biết, bị nạn trên đường.

Thoạt nghe danh xưng “người thân cận”, chúng ta mường tượng một tương quan đã có sẵn với mức độ thân quen, thân thương, thân thiết, thân tình nào đó, mà ít ai nghĩ đến “người thân cận” mà Đức Giêsu nói đến trong dụ ngôn người Samari tốt lành lại là người chưa một lần gặp gỡ, chưa hề quen biết, chưa bao giờ hàn huyên, trao đổi..

“Người thân cận ấy là một người đi đường.. Dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Lc 10, 30).

Có lẽ vì không quen biết, nên cả thầy tư tế và thầy Lêvi dù trông thấy nạn nhân “nửa sống nửa chết” vẫn thản nhiên  “tránh qua bên kia mà đi” (x. Lc 10,31-32). Chỉ riêng người Samari vì có lòng nhân ái đã “chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lẩy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy lên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10, 33-34).

Khác biệt một trời một vực giữa hai chức sắc của đạo Do Thái không chỉ có danh, có thế, có quyền,  mà còn được  nhiều người tôn kính, trọng vọng như đấng bậc đức hạnh, thánh thiện, và người Samari vô danh tiểu tốt, lại bị người Do Thái khinh khi,  lên án là lạc giáo, vô đạo chính là thái độ  đối với người bị nạn không quen biết.

Quả thực, khi hai vị chức sắc tôn giáo đã vô tâm, vô cảm, thì người Samari đã “chạnh lòng thương” khi thấy người đi đường hoàn toàn xa lạ, không quen biết bị đánh nhừ tử, nửa sống nửa chết bên đường; khi hai vị thuộc thành phần ưu tú, vị vọng trong đạo đã do vô cảm mà dửng dưng “tránh qua bên kia mà đi”, thì người Samari “lạc giáo” vì cảm thương đã  “lại gần, xức dầu,  băng bó vết thương”, rồi đưa nạn nhân  về quán trọ để tiếp tục  săn sóc; khi hai  “giáo sĩ”, vì bận rộn  công việc phụng sự Thiên Chúa  trong Đền Thánh của Ngài, đã vội vàng “tránh qua bên kia mà đi” cho kịp giờ, thì người Samari bị coi là “ngoại giáo” đã bỏ hết công việc sinh sống của mình để ở lại, chia sẻ và đồng hành  với nạn nhân trên những cây số  gian truân, nguy hiểm, ngặt nghèo nhất của đường đời; khi hai thầy dạy của lòng nhân ái  lạnh lùng đến tàn nhẫn bỏ mặc người sắp chết, mà không một lời an ủi, thì người Samari  có khi  cả đời chẳng được ai ca ngợi, chúc tụng, tuyên dương lại sẵn lòng mất thời gian, bỏ lỡ công ăn việc làm, lại tốn kém tiền bạc lo cho nạn nhân không quen, không biết cho đến khi anh ta được chữa lành; khi hai con người của Giáo Hội tỉnh bơ  “tránh qua bên kia mà đi” trước đau đớn tột cùng của nạn nhân với thái độ thản nhiên, “bình an” đến đáng sợ, thì người Samari một mình tức tốc, tất bật tìm quán trọ, xin chủ quán thay mình chăm sóc  nạn nhân sau khi đưa cho chủ quan hai quan tiền và nói : “Nhờ bác săn sóc người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10, 35).

Chúng ta không thể chối cãi sự khác biệt môt trời một vực giữa hai thái độ :  thái độ tử tế, tốt lành, do có lòng nhân ái của người Samari chẳng có gì sáng giá nổi bật trong xã hôi, từ nhân thân, địa vị đến công đức, công nghiệp và thái độ vô cảm, tàn nhẫn, bất nhân vì thiếu lòng nhân ái ở hai chức sắc trong đạo, những người thuộc  giai cấp “đấng bậc” mà nọi người phải tôn kính, vâng phục, vì uy nghiêm, chuẩn mực, đạo đức.

Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu xem ra không nương tay với  giai cấp lãnh đạo tôn giáo Do Thái lúc bấy giờ, khi so sánh thái độ không xứng đáng của họ với việc làm nhân ái anh hùng người Samari  tốt lành. Cũng như trong Tin Mừng Mátthêu, Ngài đã nặng  lời trách mắng những người  Pharisêu là “kiêu căng, phô trương, mù quáng, gian tham, giả hình, kể cả tàn ác nữa” (x. Mt 23,1-32).

Đức Giêsu cố ý làm như vậy, để dạy cho mọi người giáo lý căn bản của Ngài:

1/ Thiên Chúa chỉ đón nhận ở chúng ta lòng nhân ái:

Ngôn sứ Hôsê đã tuyên sấm: “Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” (Hs 6,6). Lòng nhân đây chính là tình yêu, lòng thương xót dành cho tha nhân, bất kể họ là ai.

Trong Tin Mừng, Đức Giêsu không ngừng nhấn mạnh lòng nhân ái  là cốt lõi của Tin Mừng: Lòng thương xót dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương, và nối kết tất cả chúng ta trong tình yêu thương xót của Ngài. Người có lòng nhân ái là người được Thiên Chúa  yêu thương, chúc phúc đã được Đức Giêsu công bố trong Hiến Chương Nước Trời: “Phúc cho ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5, 7).

2/ Không có lòng nhân ái, chúng ta không thể sống Tin Mừng của Đức Giêsu:    

Tin Mừng cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc được Thiên Chúa thương xót khi thứ tha hết mọi tội lỗi, như dụ ngôn “tên đầy tớ mắc nợ không có lòng thương xót” (Mt 18,23-35) đã mô tả Đức Vua nhân hậu đã tha cho tên đầy tớ món nợ khổng lồ “mười ngàn yến vàng”, vì chạnh lòng thương xót hoàn cảnh thiếu thốn của anh ta. Nhưng cũng trong dụ ngôn này, anh đầy tớ vừa mới được Đức Vua  tha nợ ấy đã không thương xót và tha cho bạn mình món nợ cỏn con “một trăm quan tiền”, nên đã bị Đức Vua rút lại  lòng thương xót và lệnh tha nợ, lại còn bị tống giam, vì anh độc ác, không có lòng nhân ái.

3/ Lòng nhân ái phải được biểu hiên bằng việc làm cụ thể, sống động:

Kinh nghiệm bản thân cho chúng ta nhận ra một sự thật, đó là đã rất nhiều lần chúng ta động lòng trắc ẩn trước hoàn cảnh nghiệt ngã, bế tắc của người khác; cảm thương số phận hẩm hiu, không may mắn của những cụ già neo đơn;  xót xa khi chứng kiến cảnh goá bụa, cơ cực, nhục nhằn của người mẹ đơn thân bị gia đình ruồng rẫy, ghẻ lạnh, bỏ rơi, nhưng tuyệt nhiên không một hành động cụ thể sẻ chia, an ủi, nâng đỡ, trợ giúp, bảo bọc; không một cử chỉ biểu lộ lòng nhân ái; không một thái độ biểu cảm dù đơn sơ, nhỏ bé, ngắn gọn. Chúng ta không khác hai  vị chức sắc tôn giáo trong dụ ngôn, đã lạnh lùng, thản nhiên “”tránh qua bên kia”, mà  không ghé mắt nhìn, không xuống ngựa  xem xét, không một lời hỏi han, không một sáng kiến cứu trợ, cũng không một hành vi can thiệp cách này hay cách khác, dù trong lòng có thể cũng ít nhiều cảm thương …

Thánh Giacôbê Tông Đồ đã không ngại vạch trần tình trạng  chỉ cảm thương xuông, chỉ chạnh lòng  chốc lát, chiếu lệ, mà không thể hiện  Đức Ái bằng  hành động  cụ thể, và gọi đó là Đức Tin chết khi viết: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có  đức tin mà không hành động theo đức tin , thì nào có ích lợi gì ? Đức tin có thể cứu người ấy được  chăng ? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết … Anh em thấy đó, nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi … Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,14-17.24.26).

Và Đức Giêsu đã kết luận dụ ngôn bằng lời nhắn nhủ thầy thông luật Do Thái: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 1037).

“Làm như vậy” là thể hiện lòng nhân ái với người đang cần tình thương, lòng tốt, và tinh thần nghĩa hiệp, quảng đại của mình, bất kể người ấy là ai; “Làm như vậy” là ý thức: không gì cao cả, ưu tiên hơn lòng nhân ái, và quyền bính, khả năng, cơ hội, ảnh hưởng mình đang nắm giữ sẽ chỉ thực sự có giá trị và ý nghĩa nếu được xử dụng để thương xót, cứu giúp, được  thi thố để trợ giúp,  chữa lành tất cả những ai đang gặp khó khăn, đang bế tắc, cùng đường; “Làm như vậy” là dám dừng lại bước chân  trên đường tiến thân, trên  đà sở hữu quyền thế, danh vọng của mình để ở lại với người đang cần mình có mặt, là dám xuống khỏi ngai tòa vinh quang, dám ra khỏi đia vị chót vót, ngất ngưởng, và bất khả xâm phạm  của mình để lại gần, và  ở bên  người bất hạnh đang trông đợi lòng xót thương; “Làm như vậy” là dám chấp nhận  hao hụt tiền của, thiêt thòi lợi nhuận, mất mát thời gian, xáo trộn nề nếp sinh hoạt vì mạng sống, đường sống, và cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn của những thân phận hẩm hiu, kém may mắn hơn mình; “Làm như vậy” là sống tử tế,  sống yêu thương như bổn phận phải chu toàn, mà không như  ông chủ tùy tiện ban phát  ân huệ cho đầy tớ ; “Làm như vậy” là  biết chắc rằng không có tình người, thiếu lòng nhân ái thì cuộc đời không có gì đáng nói, đáng kể lại, đáng lưu danh, vì  quyền hành rồi cũng hết, thế lực sẽ chẳng còn, uy tín, ảnh hưởng cũng sẽ tiêu tan, và sẽ chỉ còn lại  những  việc làm của lòng nhân ái, những hành động vì xót thương, bởi duy nhất tình yêu thì bất diệt, vĩnh cửu, sẽ sống mãi trong lòng mọi người, và trong trái tim Thiên Chúa. Qủa thực, ai cũng chỉ  nhớ, chỉ thương người đã yêu thương, và hy sinh vì mình, ngay cả Thiên Chúa trong ngày phán xét cũng sẽ chỉ nhận ra và nhận vào hàng ngũ  được chúc phúc và hưởng Nước Trời những  ai có lòng thương xót và thể hiện lòng thương xót ấy trong đời sống bằng việc làm.

Vì thế khi loại bỏ lòng nhân ái để triêt để bảo vệ trật tự của cơ chế; khi chà đạp  lòng thương xót vì tuyêt đối thượng tôn kỷ cương, quy tắc, luật lệ, chúng ta vô tình đi vào con đường ngược chiều với Tin Mừng, đối nghịch với Giới Luật Yêu Thương của Đức  Giêsu. Do đó, thất bại khủng khiếp, không thể gỡ được của đời người Kitô hữu, dù là Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ hay Giáo Dân chính là  thiếu lòng nhân để không là người tử tế, thiếu nhân ái để không là người môn đệ  của Đức Giêsu nhân hậu,  thiếu  thương xót để không xứng đáng là con của Cha trên trời là Đấng giàu lòng xót thương.

Đó là lý do thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã dứt khoát và mạnh dạn khẳng định: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe, xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,1-3).

Ước gì đây cũng là lý do để mỗi người Kitô hữu chúng ta luôn đặt lòng nhân ái vào vị thế ưu tiên trong mọi chọn lựa;  lấy Đức Ái làm kim chỉ nam định hướng mọi  tư tưởng, lời nói, việc làm, và lòng thương xót làm  tiêu chuẩn đánh giá mọi cố gắng  của chúng ta trên hành trình đi theo Đức Giêsu của người môn đệ.

*

Mời bạn đọc theo dõi bài viết cùng Chuỗi Suy Tư “Nhân Lành – Nhân Hậu – Nhân Ái”:

Jorathe Nắng Tím

 

 

 

Bài viết liên quan

Cảm thức

TMĐP- Hình ảnh Mẹ Việt Nam, cũng là hình ảnh người phụ nữ một đời chỉ biết hết mình, hết tình Hy Sinh: hy...

Cảm thức

<iframe width="853" height="480" src="https://www.youtube.com/embed/KUV-bc8UHPk" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture" allowfullscreen></iframe>TMĐP- Mùa lễ tình nhân, chắc chắn những ai yêu nhau sẽ có...

Giáo hội

<iframe width="896" height="504" src="https://www.youtube.com/embed/SuUZ9ewEQ0s" title="YouTube video player" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture" allowfullscreen></iframe>TMĐP- Chiến thuật “Đánh lận con đen”. Vừa ở trong,...

Mùa Phục Sinh

<iframe width="880" height="495" src="https://www.youtube.com/embed/IuTVKLrsCws" title="✝️ GẶP GỠ & NHẬN RA ☀️ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG CỨU ĐỘ HẰNG SỐNG || Suy niệm Tin Mừng CN III...

©2021 Allrights reserveds

Exit mobile version